Những cặp bài trùng trong lịch sử tân nhạc Việt Nam
Thứ tư - 23/11/2011 22:35
Những cặp bài trùng đặc biệt trong lịch sử tân nhạc Việt Nam
Kể từ những năm đầu thế kỷ XX đầy đổi thay ấy, tân nhạc Việt Nam đã đi một chặng đường khá dài, để lại bao tình yêu mến cũng như nỗi hoài vọng trong lòng công chúng. Thời đó, người viết viết bằng vui - buồn sâu thẳm của cả thế hệ, người hát hát bằng tình yêu giản dị của mình trước cuộc đời mà chẳng cần lọc qua một chiếc phễu kĩ thuật âm thanh như bây giờ. Nhạc sĩ và ca sĩ, tuy hai mà một, trở thành bản tình ca đẹp nhất đi vào lòng người nghe; để rồi từ đó số phận họ gắn kết với nhau, khi nói người này, ta phải nhắc đến người kia, và ngược lại. Họ chính là những cặp bài trùng đặc biệt trong lịch sử Tân nhạc Việt Nam.
1. Trịnh Công Sơn - Khánh Ly:
Trịnh Công Sơn gặp Khánh Ly lần đầu tiên năm 1964 tại Đà Lạt. Nhận thấy chất giọng Khánh Ly hợp với các ca khúc mình nên ông đã mời cô về Sài Gòn biểu diễn nhưng vì không muốn xa Đà Lạt nên cô từ chối. Năm 1967, họ tình cờ gặp lại nhau ở Sài Gòn; từ đó, Khánh Ly không thể tách rời nhạc Trịnh Công Sơn cũng như nhạc Trịnh Công Sơn không thể thiếu Khánh Ly. Họ đã cùng nhau cất tiếng hát tại các sân khấu, phòng trà, nhất là những buổi diễn ngoài trời cho sinh viên các trường Đại học khắp đô thị miền Nam, nơi mà Khánh Ly được mệnh danh là "nữ hoàng chân đất". Trên nền nhạc chưa được gọt đẽo nhiều, chất giọng Khánh Ly chảy tự nhiên lặng lẽ như một dòng sông. Khi hát, người ca sĩ bỏ buồn của mình vào câu ca. Cái thứ buồn đó cứ ma mị, bào mòn, rủ rê ta nghe mãi. Và nói như Trịnh Công Sơn, đây là giọng ca khó lặp lại trong đời, đến nỗi đã có lúc chính ông nghe cũng "nổi tóc gáy”.
Nói về mối quan hệ đặc biệt này, Trịnh có nói rằng "Đây là một thứ tình bạn đặc biệt kết tụ lại những đam mê chung về cuộc sống, tính lãng mạn, sự hồn nhiên. Trong cuộc hạnh ngộ này, người sáng tác và người hát làm thành một thể thống nhất bất khả phân ly. Từ đó, sự hát và kí hiệu trên trang giấy mất đi, nhường chỗ cho một lời tâm sự về đời, về người tưởng như của hai người nhưng thật ra chỉ là một mà thôi". Và "Nếu cần một phút nói rất thật thì tôi nói rằng: Khánh Ly và tôi là hai người bạn lãng đãng trong cuộc đời mà rất yêu thương nhau".
Còn Khánh Ly từng viết "Với tất cả, tôi đều dành một sự quý mến, nhường nhịn như nhau, bằng nhau - ông N. Đ. Toàn, ông T.C.Sơn dĩ nhiên phải đặc biệt hơn và không thể coi là bạn - ở mỗi người, tôi yêu một điều gì đó và chỉ cần như thế..." và "Chúng tôi đã đến với nhau một lần. Chỉ một lần nhưng xin đủ cho một đời".
2. Phạm Duy - Thái Thanh:
Phạm Duy là một trong những nhạc sĩ lớn của nền Tân nhạc với số lượng sáng tác đồ sộ và đa dạng về thể loại, trong đó có nhiều bài nổi tiếng như “Giọt mưa trên lá”, “Tình ca”, “Khối tình Trương Chi”, “Tình kỹ nữ”… Ngoài sáng tác nhạc, ông còn được biết đến với vai trò ca sĩ, nhà nghiên cứu nhạc. Đặc biệt, ông là một trong những nhạc sĩ phổ thơ hay nhất như: “Tiếng thu”, “Ngày xưa Hoàng Thị”, “Đưa em tìm động hoa vàng”, “Hai năm tình lận đận"
Còn Thái Thanh, là một trong những giọng ca hàng đầu của tân nhạc Việt Nam. Đó là chất giọng cổ điển, mượt mà, đượm chất chèo, chầu văn, quan họ của quê hương Đồng bằng Bắc Bộ; ảnh hưởng tới nhiều nữ ca sĩ của thế hệ sau như Mai Hương, Quỳnh Dao, Ánh Tuyết… Bà nhận được nhiều mến mộ từ giới trí thức cho tới bình dân và được coi như một diva tầm cỡ nhất của Việt Nam thời đó.
Khi nghe Thái Thanh hát, người nghe cảm giác như một người mẹ đang ru con, ru về nguồn cội, ru bằng tiếng hát từ thuở nằm nôi nên gần gũi, thân thiết và thân thương vô cùng. Nguyễn Đình Toàn từng nói rằng: “Máu lửa, chiến tranh, bom đạn, chia cắt, người sống, người chết, nước mắt, mồ hôi, thấm nhập vào âm nhạc của chúng ta như thế nào, đều được phản ánh qua tiếng hát Thái Thanh”. Bà là “tiếng hát vượt thời gian” (Mai Thảo
Giọng hát của bà tỏ ra rất thích hợp với các loại nhạc đa dạng của nhạc sĩ Phạm Duy, từ những bài nhạc kháng chiến, nhạc quê hương, nhạc tình, nhạc xã hội, cho tới các bản trường ca đều được bà để lại một dấu ấn lớn. Nhạc sĩ Phạm Duy, người song hành với Thái Thanh trong phần lớn các ca khúc của mình, từng cho rằng không ai có thể thay thế được Thái Thanh trong sự diễn tả những sáng tác của ông.
3. Lê Uyên - Phương:
Những năm đầu thập kỷ 70 thế kỷ XX, bên cạnh những ca khúc Trịnh Công Sơn, sự xuất hiện của Lê Uyên - Phương với những ca khúc "Vũng lầy cho chúng ta", "Bài ca hạnh ngộ", Dạ khúc cho tình nhân"... cũng trở thành một hiện tượng mới của Tân nhạc. Năm 1968, Lê Uyên Phương gặp Lâm Phúc Anh ở Đà Lạt và bước vào cuộc tình đầy rộn ràng, hoang sơ, đam mê vào bậc nhất của lịch sử âm nhạc Việt Nam.
Lâm Phúc Anh không muốn dùng tên thật nên lấy tên là Lê Uyên. Hai người thường xuất hiện song ca trước công chúng nên được gọi là Lê Uyên và Phương.
Nhạc Lê Uyên Phương gần với nhạc Trịnh Công Sơn ở “một dạ hội buồn” nhưng nếu nhạc Trịnh đa màu với nhiều khuôn mặt gắn liền thân phận lưu đày giữa quê hương thần thoại, những cuộc tình xa, tình sầu thì trong nhạc của Phương, điều đó hẹp hơn, nhiều cung bậc, nhiều sắc thái hơn, đặc biệt phai tàn dữ dội hơn. Ta không thấy hình ảnh “người mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh”, “em bé lõa lồ khóc tuổi thơ đi”, những người con gái Việt Nam da vàng như trong nhạc Trịnh, mà chỉ thấy một nỗi buồn đau mơ hồ, mục ruỗng, đầy bất an và dự cảm một ngày mai chia lìa. Ta chỉ thấy ở đó những vòm nắng buồn mê mải trên đồi cao Đà Lạt và thế giới của hai người trên cánh môi sắp khép lại những mong chờ.
Lê Uyên và Phương gặp nhau như một định mệnh và yêu nhau say đắm, bất chấp mọi cấm đoán của gia đình, tuổi tác, địa vị và bệnh tật. “Chuyện tình của họ đòi đoạn đớn đau. Gia đình nàng không chấp nhận. Họ mê say trong trốn chạy” (Song Thao). Và Nguyễn Đình Toàn từng viết rằng: “Có biết chăng niềm vui đã nằm trong thiên tai”. Cuộc tình ấy tạo nên những vệt lòng ám ảnh người nhạc sỹ để rồi chia lìa về như tiếng gọi trùng phùng, lưu lại đậm nét trong các nhạc phẩm. Sau 15 năm chung sống, họ chính thức chia tay nhau.
Với nhạc của Phương, hình như chỉ có Lê Uyên hát thì mới chuyển tải được hết chất nhạc của Phương, vừa tha thiết, mạnh mẽ, đầy đam mê, vừa khắc khoải, chán chường “in trên nét môi”. Cùng với Lan và Điệp trong “Tắt lửa lòng” (Nguyễn Công Hoan), đây là mối tình đẹp như đóa hoa tuyệt vọng trong lòng tôi. Khi họ chia tay, mỗi lần nghe lại giọng hai người đó trộn vào nhau, tôi có cảm giác tình ca Việt Nam đã chết đi vĩnh viễn.
Trịnh Công Sơn từng bảo với Khánh Ly rằng "Huyền thoại là điều không có thật", bởi đến một lúc nào đó, kỷ niệm sẽ tàn phai và quay về điểm khởi thủy của cuộc đời là cát bụi. Nhưng rõ ràng, cho tới bây giờ, những câu chuyện âm nhạc này vẫn còn được đọng lại rất rõ nét trong tâm khảm của những người yêu nhạc bao thế hệ.
Nguồn tin: Thời báo Mê Koong